Gốc > SKKN >

SKKN NĂM HỌC 2013 - 2014

 

 

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CHỢ MỚI

TRƯỜNG TIỂU HOC C NHƠN MỸ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đề tài:

MỘT SỐ KINH NGHIỆM

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC

MỘT SỐ MÔN HỌC Ở LỚP 4, 5

 

Thuộc lĩnh vực:           Công nghệ thông tin

Người Thực hiện: Nguyễn Phú Quốc

Chức vụ:              Giáo viên dạy lớp 5C

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tháng 12 năm 2013

 

I. MỤC LỤC:

 

Thứ tự các phần

Trang

  1. Mục lục
  2. Tên đề tài
  3. Đặt vấn đề
  4. Cơ sở lý luận
  5. Cơ sở thực tiễn
  6. Nội dung nghiên cứu

 + Phần 1: Vài kinh nghiệm trong soạn giảng bài giảng điện tử nói chung.

+ Phần 2: Một số bài giảng (hoặc phần bài giảng) ứng dụng CNTT.

  1. Kết quả nghiên cứu
  2. Kết luận
  3. Đề nghị

10. Tài liệu tham khảo

 

1

2

2

2

3

3

3

 

4

 

24

24

24

25

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II. TÊN ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MỘT SỐ MÔN HỌC Ở LỚP 4,5.

III. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Trong những năm gần đây, việc đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa được thực hiện đồng bộ. Việc đổi mới nội dung, chương trình khi thay sách đòi hỏi giáo viên phải đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp. Và một trong những công cụ hiệu quả  cung cấp cho giáo viên phương tiện làm việc hiện đại đó là công nghệ thông tin.

Hiện nay, việc ứng dụng CNTT vào dạy học đã trở nên đại trà, phổ biến.  Một trong những môn học thích hợp nhất với việc dùng bài giảng điện tử đó chính là môn địa lý. Việc dùng những bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh, đoạn phim trình chiếu lên màn hình chính là kênh hình trực quan, sinh động nhất, đánh mạnh vào sự chú ý của các em học sinh nhất là học sinh tiểu học, giúp học sinh tiếp thu bài một cách nhanh chóng và thực sự hiệu quả.

Ở trường tiểu học C Nhơn Mỹ, nhà trường đã đầu tư mua sắm máy chiếu, máy tính xách tay, lớp tin học cho học sinh và bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên học ứng dụng phần mềm power point, violet, … vào soạn giảng, bản thân và một số giáo viên chủ động tự trang bị cho mình máy tính xách tay. Vì vậy hầu như thầy cô giáo nào cũng có thể tự thiết kế cho mình một bài giảng điện tử để đưa vào giảng dạy.Trong quá trình dạy, tôi nhận thấy mỗi khi dùng bài giảng điện tử thì các em vô cùng hứng thú, hoạt động sôi nổi, tiếp thu bài tốt. Vì vậy, tôi viết SKKN này nhằm tập hợp những kinh nghiệm của bản thân mình trong quá trình soạn giảng bằng công nghệ thông tin để chia sẻ với các thầy cô. Đề tài này gồm 2 phần :

+ Phần 1 : Vài kinh nghiệm trong soạn giảng bài giảng điện tử nói chung.

+ Phần 2: Một số bài giảng (hoặc phần bài giảng) ứng dụng CNTT .

IV. CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Khi dạy bài giảng điện tử, máy tính được sử dụng trong việc cung cấp thông tin bằng hình ảnh,âm thanh, truyền thụ kiến thức, phát triển tư duy, hướng dẫn hoạt động, rèn luyện kĩ năng, kiểm tra, đánh giá..., tạo hứng thú cho học sinh trong học tập trong các môn học có ứng dụng CNTT.

Với kho tư liệu phong phú sẵn có trên Internet, giáo viên dễ dàng tìm cho mình nhiều hình ảnh đặc sắc minh họa cho bài học, sinh động hơn nữa là các đoạn phim mô tả. Những điều này sách giáo khoa khó có thể đáp ứng được. Bên cạnh đó, đói với môn địa lý, lịch sử cần rất nhiều bản đồ, lược đồ mà thư viện trường không thể cung cấp hết được. Giờ đây, giáo viên chỉ cần một cú nhấp chuột là loại bản đồ, lược đồ nào cũng có. Việc thiết kế biểu đồ trên Powerpoint cũng được thực hiện nhanh chóng, dễ dàng.

Trong việc cung cấp thông tin, những thông tin hiện lên màn hình với các hiệu ứng gây chú ý cũng là một cách trực quan rất hiệu quả thu hút sự chú ý tập trung của các em. Các em cũng dễ nhớ bài hơn. Bên cạnh đó, giáo viên cũng có thể tóm lược được những ý chính của bài hiện lên màn hình cho các em dễ nắm bài hơn, tiết kiệm được thời gian, công sức.

Ở phần củng cố bài, chúng ta có thể thiết kế trò chơi ô chữ hoặc một số trò chơi trắc nghiệm với Violet… sẽ giúp cho giờ học được kết thúc một cách thú vị, hấp dẫn mà lại khắc sâu vào tâm trí các em.

Ở những tiết ôn tập dẫn dắt các em dễ nhớ lại những kiến thức bài cũ đã học qua một cách logic có hệ thống, hay môn mĩ thuật muôn màu, muôn vẽ và tạo cho học sinh ham thích trong môn tin học.

Đối với giáo viên, việc soạn giảng một bài giảng điện tử là con đường giúp giáo viên chúng ta tiếp cận với công nghệ thông tin nhanh nhất. Thông qua việc soạn giảng, những kĩ năng sử dụng phần mềm Word, Excel, Powerpoint, violet,… được nhuần nhuyễn và ngày càng tiến bộ. Đồng thời kiến thức cuộc sống của mỗi người cũng sẽ được nâng cao. Giáo viên thấy yêu nghề hơn, sáng tạo hơn. Hơn nữa, theo tôi, việc dạy bằng bài giảng điện tử giáo viên đỡ vất vả hơn mà học sinh thích thú hơn .

V. CƠ SỞ THỰC TIỄN:

Đề tài ứng dụng công nghệ thông tin vào soạn giảng trong dạy học không phải là vấn đề mới mẻ. Trước đây đã có một số đề tài viết về vấn đề này. Tuy nhiên những năm đứng lớp khối 4,5 bản thân học hỏi, tìm tòi và soạn giảng trong phạm vi lớp 4,5 vói điều kiện của trường đang dạy – và là mong muốn được góp kinh nghiệm nhỏ bé của mình với đồng nghiệp đẻ trao đổi kinh nghiệm trong giảng dạy ngày càng đạt hiệu quả hơn.

VI. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

 

Phần 1: Vài kinh nghiệm trong soạn giảng bài giảng điện tử nói chung

 

1/ Chọn bài giảng hoặc phần bài giảng thích hợp soạn điện tử:

Giáo viên cần xác định bài giảng đó có thích hợp để dạy điện tử hay không, hoặc phần bài giảng nào cần sử dụng CNTT để chuyển tải nội dung bài dạy và mang lại hiệu quả giáo dục cao. Nếu bài dạy nào sử dụng phấn trắng bảng đen vẫn tốt thì không nên lạm dụng bài dạy điện tử.

2/ Lập dàn ý cho bài dạy:

Cần xác định bài dạy có mấy phần (mấy hoạt động). Mỗi phần cần chuyển tải những nội dung gì trọng tâm. Sử dụng âm thanh, hiệu ứng , hình ảnh, đoạn phim, trò chơi… gì cho phù hợp và hiệu quả. Một bài dạy không nên chỉ sơ sài vài slide hoặc cũng không nên có quá nhiều (40-50 slide). Mặt khác, giáo viên cần chú ý mối quan hệ hữu cơ giữa các slide. Nếu không, bài dạy sẽ rời rạc, là một tập hợp chữ và hình ảnh hơn là 1 bài soạn.

3/ Tư liệu :

Chắc chắn giáo viên nào khi soạn bài giảng điện tử cũng đều cần tư liệu minh họa, dẫn dắt hoặc làm phong phú bài giảng. Tư liệu thì giáo viên có thể tìm từ nhiều nguồn: sách báo, tạp chí rồi đưa vào bài dạy bằng cách scan, dùng máy ảnh kĩ thuật số chụp rồi copy vào máy, dùng phần mềm để cắt đoạn phim, ráp hình ảnh, chuyển đổi đuôi cho đoạn phim như phần mềm Total Video Converter….Một nguồn tư liệu phong phú khác đó là tìm trên Internet.

Một điều quan trọng là giáo viên phải xác định mục đích sử dụng của mỗi tư liệu đưa vào bài giảng, có cần thiết không. Nếu không đúng lúc đúng chỗ sẽ rơi vào trường hợp phô diễn không cần thiết hoặc tệ hơn là làm nhiễu việc tiếp nhận thông tin của học sinh.

4/ Những chú ý khi lên lớp:

Giáo viên cần học thuộc giáo án, chú ý ghi nhớ tiến trình, những lời dẫn dắt để chuyển từ hoạt động này qua hoạt động khác, kết hợp lời giảng với thao tác máy cần uyển chuyển cho tiết dạy sinh động. Cần tính toán sao cho thời gian của tiến trình dự định phải gần như trùng khớp với thời gian thực dạy trên lớp, để tránh “cháy” hoặc “ướt” giáo án đã soạn.

Phần 2: Một số bài giảng (hoặc phần bài giảng) ứng dụng CNTT .

LỚP 4:

Các môn : Địa lý, Lịch sử, khoa học,......

Bài 6:  Một số dân tộc ở Tây Nguyên

Bài này tập trung nội dung chính: Trang phục và lễ hội

Vì vậy ở bài này, giáo viên ứng dụng CNTT là rất thích hợp. Dùng hình ảnh thể hiện các trang phục của người dân tộc Gia-rai, người Ê-đê, người Xơ-đăng, Ba-na…và một số dân tộc khác.

                               

                        Dân tộc Gia Rai                                      Dân tộc Ê đê

        

            Dân tộc Ba Na                                               Dân tộc Xơ đăng

 

Dùng đoạn phim để mô tả lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên:

              

                      

 

Bài 29: Biển, đảo và quần đảo.

Đoạn phim về Vịnh Hạ Long:

 

 

                   

 

Bài 9 : Thành phố Đà Lạt

Để vẽ nên một Đà Lạt thơ mộng, thành phố của thông reo và thác nước, thành phố du lịch và nghỉ mát, còn gì hiệu quả hơn bằng việc dùng hình ảnh phong phú và đoạn phim giới thiệu về những địa điểm du lịch nổi tiếng ở Đà Lạt.

Tương tự với bài : Thành phố Huế, thành phố Đà Nẵng…..

Hoặc những bài như : Người dân và hoạt động sản xuất ở đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ, Trung Bộ…

Bài 23: Ôn tập

1/ Chỉ trên bản đồ địa lí tự nhiên ViệtNam, vị trí của:

-         Đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ.

-         Sông Hồng, sông Thái Bình, sông Tiền, sông Hậu, sông Đồng Nai.

                              

2/ Nêu sự khác nhau về đặc điểm thiên nhiên của đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ theo gợi ý sau:

 

Đặc điểm thiên nhiên

Khác nhau

 

 

- Địa hình

- Sông ngòi

- Đất đai

- Khí hậu

Đồng bằng Bắc Bộ

Đồng bằng Nam Bộ

 

 

 

3/ Hãy chọn các câu sau và cho biết câu nào đúng, câu nào sai? Vì sao?

          

     

 

Hoặc ở bài 31-32 Ôn tập cũng có thể dùng violet tạo bài tập chọn ý đúng (bài 4) hoặc bài tập trắc nghiệm ghép đôi (bài 5) như dưới đây:

 
   

 

 

      

          Như môn lịch sử học sinh năm được truyền thống đấu tranh của ông cha ta và sự xây dưng đất nước của dân tộc.

 

 

Bài 9: Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân .

            Từ bản đồ những địa danh các sứ quân chiếm đóng sau khi Ngô Quyền mất cho học sinh chỉ trên bản đồ giáo viên sử dụng hiệu ứng chữ đẻ xác định đúng sai

 

 

          Từ đó, cho các em thấy dược công lao của ông cha ta bảo vệ và xây dựng đất nước.Giáo dục kĩ năng sống cho các em.

 

 

Bài:Nguyên nhân làm ô nhiễm nguồn nước.( Khoa học Tuần 13 tiết 26 )      

Trong môn khoa học từ các hình ảnh trong sách giáo khoa học cùng 1 số hình ảnh trong thực tế. Từ đó, các em thấy được ứng dụng trong cuộc sống để bảo vệ cho bản thân và gia đình.

 

 

 

Những hình ảnh có trong sách giáo khoa để học sinh tìm hiểu bài.

 

 

 

            Những hình ảnh ngoài thực tế cho các em thấy được tác hại của ô nhiễm nguồn nước gây ra.

LỚP 5:

a/ Hệ thống bản đồ, lược đồ được sử dụng ở hầu hết các bài địa lí lớp 5 mà thư viện không thể đáp ứng đầy đủa. được. Hơn nữa, với bản đồ trên máy, giáo viên có thể dùng hiệu ứng để làm nổi bật địa danh mình muốn nhắc đến hoặc tạo liên kết để khi kích chuột vào tên địa danh đó trên bản đồ thì dẫn dắt học sinh  đến với nơi tương ứng với tên đó.

Bài 5: Vùng biển nước ta:

 

Tương tự như vậy với bài Châu Á, Châu Âu, Châu Mĩ ( phần Đặc điểm tự nhiên )

Bài 4: Sông ngòi   

 

 

 

Hoặc với bài 14 Giao thông vận tải, hiệu ứng sẽ giúp học sinh nhìn thấy đường sắt Bắc Nam và quốc lộ 1A chạy từ đâu đến đâu, đi qua những tỉnh nào mà ở bản đồ giấy không làm được điều này.

 

 

b/ Các sơ đồ động:

Bài 4: Sông ngòi

 

 

 

Bài 5: Vùng biển nước ta

               

 

c/ Biểu đồ:

Bài 14: Giao thông vận tải

 

 

d/ Hình ảnh phong phú:

 

Bài 5: Vùng biển nước ta:

             

 

Bài 4: Sông ngòi

 

               

 

e/ Dùng Violet để thiết kế các bài ôn tập như bài 7, bài 16, bài 22, bài 29:

VD:

         

 

            Đối với các môn học khác tạo cho các em tìm hiểu và hiểu thêm  tiểu sử, quê hương, danh lam, …..trên mọi miền đất nước. Từ đó tạo vốn sống cho học sinh ham thích tìm hiểu thích trong học tập trong tiết dạy có ứng dụng CNTT.

           

VD:  bài : Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước.( Lịch sử tuần 6 tiết 6 )

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

           

            Qua bài học các biết được quê hương của Bác, công việc và nơi ra đi tìm đường cứu nước.Có thể tìm hiểu thêm thân thế về cuộc đời của Bác qua những tác phẩm giới thiệu.

Khoa học:  Bài : Phòng tránh tai nạn giao thông đường bộ ( Tuần 10 tiết 19 )

 

 

         

Những hình ảnh trong sách giáo khoa đẻ các tìm ra nguyên nhân gây ra

 Tai nạn giao thông đường bộ.

 

 

 

          Những hình ảnh thật trong cuộc sống để học sinh thấy được lỗi vi phạm giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả tai nạn giao thông đáng tiếc xảy

 

Tập đọc : Bài: Hạt gạo làng ta ( Tuần 14 tiết 28 )

 

 

           

Cho học sinh biết được tiểu sử của nhà thơ.

 

Các em thấy được những công cụ ngày xưa của ông cha ta sử dung trong nông nghiệp.

 

 

 

            Cho các em thấy được con người ViệtNamcần cù trong lao động và lòng yêu nước nồng nàn để phục cho kháng chiến.

 

VII. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

Qua 1 năm thực hiện đề tài này, tôi nhận thấy một biểu hiện chung là các em ngày càng thích học, kết quả kiểm tra tiến bộ rõ rệt.

 

VIII. KẾT LUẬN:

 

Trên đây là đề tài ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học ở tiểu học mà tôi đã thực hiện và đạt được một số kết quả nhất định trong phạm vi mình giảng dạy. Đề tài gồm một số cách thức giúp giáo viên nắm được qui trình thiết kế một bài giảng điện tử và một số bài dạy hoặc phần bài dạy ở môn địa lí thích hợp dùng công nghệ thông tin để khai thác nội dung bài một cách hiệu quả. Đặc điểm học sinh tiểu học thời nay là năng động, sáng tạo, ưa thích cái mới nên việc ứng dụng công nghệ thông tin vào soạn giảng đã mang lại hứng thú cho học sinh, giúp các em chủ động, tích cực khai thác và nắm vững kiến thức. Kết quả thể hiện bằng điểm số đã minh chứng điều này.

 

IX. ĐỀ NGHỊ:

 

Qua thực hiện đề tài này, tôi có một số đề nghị như sau:

-         Giáo viên chúng ta cần tích cực tự bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học cho mình.

-         Nếu những gì mà bảng đen phấn trắng là được thì không nên lạm dụng công nghệ thông tin.

-         Máy móc chỉ là phương tiện hỗ trợ còn chủ đạo vẫn là người thầy. Người thầy cần nghiên cứu phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với đặc điểm lớp, với từng nhóm đối tượng học sinh để dẫn dắt học sinh tích cực lĩnh hội kiến thức.

-         Đề tài này bàn thân chỉ nêu chủ yếu ở môn địa lý còn 1 số môn học khác ở khối lớp 4,5 chỉ tóm lược ý chính. Bên cạnh đó ở tiểu học có rất nhiều môn cũng rất thích hợp ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học. Bản thân rất mong các thầy cô đồng nghiệp cùng tham gia nghiên cứu để đóng góp thêm những kinh nghiệm cho tất cả các môn học ở tiểu học.

 

X. TÀI LIỆU THAM KHẢO:

 

  1. Trang website : violet.vn
  2. Internet

 

                                                                                                        Người viết

 

 

 

 

Nguyễn Phú Quốc


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Phú Quốc @ 07:20 30/07/2014
Số lượt xem: 409
Số lượt thích: 1 người (Đỗ Thị Nghi)
 
Gửi ý kiến