Gốc > SKKN >

SKKN 2011 - 2012

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CHỢ MỚI

TRƯỜNG TIỂU HOC C NHƠN MỸ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đề tài:

HÌNH THÀNH NĂNG LỰC VÀ THÓI QUEN VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4

 

Thuộc lĩnh vực:           Phân môn chính tả

Người Thực hiện: Nguyễn Phú Quốc

Chức vụ:             Giáo viên dạy lớp

Tổ chuyên môn:   Tổ…khối 4

Số di động                   01685 243 222

 

 

 

 

 

 

 

 

Năm học: 2011 – 2012

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

          - Chữ viết là hệ thống ký hiệu bằng đường nét đặt ra để ghi tiếng nói và có những quy tắc, quy định riêng. Muốn viết đúng chính tả Tiếng Việt, ta phải tuân theo những quy định, quy tắc đã được xác lập.

            - Trong thực tế, học sinh mắc lỗi chính tả rất nhiều. Có những học sinh viết sai hơn 10 lỗi ở một bài chính tả khoảng 60 chữ. Khi chấm bài Tập làm văn, tôi không thể hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài viết mắc quá nhiều lỗi chính tả. Điều này ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác, hạn chế khả năng giao tiếp, làm các em mất tự tin, trở nên rụt rè, nhút nhát.

            - Vì lý do đó, tôi đã cố gắng thống kê, phân loại lỗi, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp khắc phục nhằm “ Hình thành năng lực và thói quen viết đúng  chính tả cho học sinh lớp 4 ”, giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn khi giao tiếp, nhằm mục tiêu đào tạo những chủ nhân tương lai năng động, sáng tạo phù hợp với xu thế phát triển hiện nay.

II. NỘI DUNG & BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

A. NỘI DUNG

1. Kết quả thống kê lỗi

Qua kết quả thống kê các loại lỗi, tôi thấy học sinh thường mắc phải các loại lỗi sau:

a. Về thanh điệu

Tiếng Việt có 6 thanh điệu (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì học sinh không phân biệt 2 thanh hỏi, ngã. Tuy chỉ có 2 thanh nhưng số lượng tiếng mang 2 thanh này không ít và rất phổ biến - kể cả những người có trình độ văn hố cao.

Ví dụ:             Sữa xe đạp, hướng dẩn, giử gìn, dổ dành…

b. Về âm đầu

- Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:

+ c/k: Céo cờ…

+ g/gh: Con gẹ , gê sợ…

+ ng/ngh: Ngỉ ngơi, nge nhạc…

+ ch/tr: Cây che, chiến chanh…

+ s/x:  Cây xả , xa mạc…

+ v/d/gi: Giao động, giải lụa , giòng giống , dui dẻ…

- Trong các lỗi này, lỗi về ch/tr, s/x, v/d/gi là phổ biến hơn cả

c. Về âm chính

- Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau đây:

+ ai/ay/ây: Bàn tai, đi cầy, dậy học…

+ ao/au/âu: Hôm sao, mầu đỏ…

+ iu/êu/iêu: chìu chuộng, lim khiết, cây niu

+ oi/ôi/ơi: nôi gương, xoi nếp…

+ ăm/âm: con tầm, sưu tằm, bụi bậm

+ im/iêm/êm/em: tim thuốc, lúa chim, cái kềm

+ ăp/âp: gập gỡ, trùng lấp

+ ip/iêp/êp/ep: số kíp, liên típ, thệp cưới…

+ ui/uôi: chín mùi, đầu đui, tủi tác…

+ um/uôm: nhụm áo, ao chum

+ ưi /ươi: trái bửi

+ ưu/ ươu: ốc bưu, con khứu

d. Về âm cuối

- Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:

+ an/ang: cây bàn, bàng bạc…

+ at/ac: lang bạc, lường gạc, rẻ mạc

+ ăn/ăng: lẳn lặn, căn tin…

+ ăt/ăc: giặc giũ, co thắc, mặt quần áo…

+ ân/âng: hụt hẫn, nhà tần

+ ât/âc: nổi bậc, nhất lên…

+ ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển

+êt/êch: trắng bệt

+ iêt/iêc: mải miếc, tiêu diệc

+ ut/uc: chim cúc, bão lục

+ uôn/uông: khuôn nhạc, buồn tắm…

+ uôt/uôc: rét buốc, chải chuốc

+ ươn/ương: lươn bổng, sung sướn

2. Nguyên nhân mắc lỗi

a. Về thanh điệu

Theo các nhà ngữ âm học, người Việt từ Nghệ An trở vào không phân biệt được 2 thanh hỏi, ngã. Hay nói đúng hơn trong phương ngữ Trung và Nam không có thanh ngã. Mặt khác, số lượng tiếng mang 2 thanh này khá lớn. Do đó lỗi về dấu câu rất phổ biến.

b. Về âm đầu

Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu ch/tr, s/x. d/gi. Mặt khác, người Miền Nam còn lẫn lộn vd. Ngồi ra, trong quy ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (ví dụ: /k/ ghi bằng c,k,qu…) dĩ nhiên là có những quy định riêng cho mỗi dạng, nhưng đối với học sinh tiểu học (nhất là học sinh yếu) thì rất dễ lẫn lộn.

c. Về âm chính

Có 2 nguyên nhân gây ra sự lẫn lộn về âm chính trong các vần này:

- Nguyên nhân thứ nhất là do sự phức tạp của chữ quốc ngữ: Nguyên âm /ă/ lại được ghi bằng chữ a trong các vần ay, au, các nguyên âm đôi /ie, ươ, uô/ lại được ghi bằng các dạng iê,yê, ia, ya; ươ, ưa; uô, ua (bia - khuya, biên - tuyến, lửa - lương, mua - muôn); âm đệm /w/ lại được ghi bằng 2 con chữ uo (ví dụ: huệ, hoa).

- Nguyên nhân thứ hai là do cách phát âm lẫn lộn trong phương ngữ Nam Bộ đối với các âm chính trong hầu hết các vần trên.

d. Về âm cuối

Người Miền Nam phát âm hồn tồn không phân biệt các vần có âm cuối n/ng/nht/c/ch. Mà số từ mang các vần này không nhỏ. Mặt khác hai bán âm cuối

/i,u/ lại được ghi bằng 4 con chữ i/y (trong: lai/lây), u/o (trong: sau/sao) do đó lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với học sinh khu vực phía Nam.

 

B. BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT

* Một số biện pháp khắc phục lỗi

a. Luyện phát âm:

- Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải chú ý luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm - âm thế nào, chữ ghi lại thế ấy.

- Việc rèn phát âm không chỉ được thực hiện trong tiết Tập đọc mà được thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn…

- Với những học sinh có vấn đề về mặt phát âm (nói ngọng, nói lắp,…), giáo viên lưu ý học sinh chú ý nghe cô phát âm để viết cho đúng. Vì vậy, giáo viên phải cố gắng phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh viết đúng được.

b. Phân tích, so sánh:

- Với những tiếng khó, giáo viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh ghi nhớ.

Ví dụ: Khi viết tiếng “muống” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “muốn”, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:

- Muống = M + uông + thanh sắc

- Muốn = M + uôn + thanh sắc.

So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “muống” có âm cuối là “ng”, tiếng “muốn” có âm cuối là “n”. Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ không viết sai.

c. Giải nghĩa từ:

- Biện pháp thứ ba để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giải nghĩa từ. Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Luyện từ và câu, Tập đọc, Tập làm văn… nhưng nó cũng là viêc làm rất cần thiết trong tiết Chính tả, khi mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng.

- Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể cho học sinh đọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ), tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh,…

Ví dụ: Phân biệt chiêngchiên

+ Giải nghĩa từ chiêng: Giáo viên có thể cho học sinh quan sát tranh ảnh cái chiêng hoặc miêu tả đặc điểm (chiêng là nhạc cụ bằng đồng, hình tròn, đánh bằng dùi, âm thanh vang dội).

+ Giải nghĩa từ chiên: Giáo viên có thể cho học sinh đặt câu với từ chiên hoặc giải thích bằng định nghĩa (chiên là làm chín thức ăn bằng cách cho thức ăn vào chảo dầu, mỡ, đun trực tiếp trên bếp lửa).

- Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để giải nghĩa từ.

d. Ghi nhớ mẹo luật chính tả:

- Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu. Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k,gh,ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e,ê,iê, ie. Ngồi ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:

+ Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch, ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng, choé,… chồn, chí, chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi…

+ Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu bằng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, sặt, sậy, sấu, sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa… sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, săn sắt, sư tử, sơn dương, san hô…

+ Để phân biệt dấu thanh hỏi/ngã: Các từ gộp âm chỉ mang thanh hỏi không mang thanh ngã:

- Trong + ấy = trỏng.

- Trên + ấy = trển

- Cô + ấy = cổ

- Chị + ấy = chỉ

- Anh + ấy = ảnh

- Ông + ấy = ổng

- Hôm + ấy = hổm

- Bên + ấy = bển

+ Luật bổng - trầm: Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của 2 yếu tố ở cùng một hệ bổng (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng). Để nhớ được 2 nhóm này, giáo viên chỉ cần dạy cho học sinh thuộc 2 câu thơ:

Em Huyền mang nặng, ngã đau

Anh Ngang sắc thuốc, hỏi đau chỗ nào

Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại).

Ví dụ:  Bổng

·        Ngang + hỏi: Nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo, vui vẻ…

·        Sắc + hỏi: Nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vắng vẻ…

·        Hỏi + hỏi: Lỏng lẻo, thỏ thẻ, hổn hển, thủ thỉ, rủ rỉ…

Trầm:

·        Huyền + ngã: Sẵn sàng, lững lờ, vồn vã

·        Nặng + ngã: Nhẹ nhõm, đẹp đẽ, mạnh mẽ, lạnh lẽo,…

·        Ngã + ngã: Dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo…

+ Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn:

Một số từ có vần ênh chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc: Gập ghềnh, khấp khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh chống, chệnh choạng, lênh khênh, bấp bênh, công kênh…

Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là ng hoặc nh: oang oang, đùng đồng, loảng xoảng, đồng đồng, sang sảng, rổn rảng, ùng ồng, quang quác, ăng ẳng, ằng ặc, oăng oẳng, răng rắc, sằng sặc, pằng pằng, eng éc, beng beng, chập cheng, leng keng, reng reng, phèng phèng, lẻng kẻng, lẻng xẻng, ùng ùng, đùng đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, thình thình, rập rình, xập xình, huỳnh huỵch…

Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân

e. Làm các bài tập chính tả:

Giáo viên có thể đưa ra các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quy tắc chính tả để các em ghi nhớ.

- Bài tập trắc nghiệm:

* Khoanh tròn vào chữ cai trước những chữ viết đúng chính tả:

a. Hướng dẩn                                                              b. Hướng dẫn

c. Giải lụa                                                                   d. Dải lụa

e. Oan uổng                                                                f. Oan uổn

* Điền chữ Đ vào ô trống trước những chữ viết đúng chính tả và chữ S vào ô trống trước những chữ viết sai chính tả:

 

 

 

 
Rau muốn                                                                   Rau muống

 

 

 

 
Chải chuốc                                                                 Chải chuốt

 

 

 

 
Giặc quần áo                                                              Giặt quần áo

* Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo thành những từ viết đúng chính tả:

A                                                                                 B

bênh                                                                            trái

bên                                                                              vực

bện                                                                              tật

bệnh                                                                            tóc

 

- Bài tập chọn lựa:

* Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau:

·        Cháu bé đang uống ……… (sửa, sữa)

·        Học sinh …...........mũ chào thầy giáo. (ngả, ngã).

·        Đôi …… này đế rất …….. (giày, dày)

·        Sau khi ……. con, chị ấy trông thật …… (xinh, sinh)

* Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau:

·        Học sinh …. đèn học bài….. đêm khuya. (trong, chong)

·        Lan thích nghe kể……….hơn đọc……….. (truyện, chuyện)

·        Trời nhiều …….., gió heo ………lại về. (mây, may)

- Bài tập phát hiện:

* Tìm từ sai chính tả trong câu sau và sửa lại cho đúng:

·        Xuân diệu là một nhà thơ trử tình nổi tiếng.

·        Cả phòng khéc lẹc mùi thuốc lá.

·        Lá vàng bay liệng trong gió chiều.

·        Bức tườn bị nức ngang nức dọc.

- Bài tập điền khuyết:

* Điền vào chỗ trống:

·        l/n: lành…. ặn, nao…úng,…anh lảnh

·        s/x: chim…ẻ, san…ẻ, …ẻ gỗ. …uất khẩu, năng….uất.

·        ươn/ương: bay l…..., b…. chải, bốn ph….. , chán ch…\

·        iêt/ iêc: đi biền b…....., thấy tiêng t…/.., xanh biêng b…/..

* Điền tiếng láy thích hợp vào chỗ trống:

·        Hắn bỡ…….. trước cuộc sống mới lạ.

·        Buổi trưa hè, trời nắng chói …….

·        Dây leo chằng………, chắn cả lối đi.

·        Tiếng gà kêu quang ………

- Bài tập tìm từ:

Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi ý từ đồng âm, từ trái nghĩa….

* Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng ươt hoặc ươc có nghĩa như sau:

·        Dụng cụ để đo, vẽ, kẻ:

·        Thi không đỗ:

·        Người chuyên nghiên cứu, bào chế thuốc chữa bệnh:

* Tìm các từ chỉ hoạt động:

·        Chứa tiếng bắt đầu bằng r:

·        Chứa tiếng bắt đầu bằng d:

·        Chứa tiếng bắt đầu bằng gi:

·        Chứa tiếng có vần ươt:

·        Chứa tiếng có vần ươc:

* Tìm từ ngữ có thanh hỏi hoặc thanh ngã có ý nghĩa như sau:

·        Trái nghĩa với từ thật thà:

·        Đoạn đường nhỏ hẹp trong thành phố:

·        Cây trồng để làm đẹp:

·        Khung gỗ để dệt vải:

- Bài tập phân biệt:

Đặt câu để phân biệt từng cặp từ sau:

·        nồi - lồi

·        no - lo

·        chúc - chút

·        lụt - lục

·        ngả - ngã

- Bài tập giải câu đố

* Em chọn tr hay ch để điền vào chỗ trống rồi giải câu đố sau:

            Mặt….. òn, mặt lại đỏ gay

Ai nhìn cũng phải nhíu mày vì sao

            Suốt ngày lơ lửng… ên cao

Đêm về đi ngủ, ….ui vào nơi đâu?

                                                (là gì?)

 

 

* Em chọn dấu hỏi hay dấu ngã để đặt trên những chữ in đậm rồi giải câu đố sau:

            Cánh gì cánh chăng biết bay

Chim hay sà xuống nơi đây kiếm mồi

            Đôi ngàn vạn giọt mồ hôi

Bát cơm trắng deo, đia xôi thơm bùi.

                                                (là gì ?)

            * Ngồi ra một  số đặc điểm cần quan tâm chủ yếu:

+ Đối với học sinh:

-  Phân loại đối tượng học sinh yếu chính tả theo từng nhóm :

* Nhóm lơ đễnh trong khi viết: Hữu Đức, Thùy Dương, Trung Phát, Trường Giang,...

* Nhóm sai tùy tiện : Hoàng  Anh, Thanh Ngân, Ngọc, Duy Khánh...

* Nhóm chưa nắm vững cách phát âm, chưa hiểu rõ nghĩa từ hoặc chưa nắm vững cách phân tích cấu tạo tiếng : Thành Lợi, Yến Linh, Như Ý, Qui, Hoàng Luận, Hồng Đào...

Tùy theo từng loại đối tượng, tôi phụ đạo các cách khác nhau và cũng tùy thời gian tôi thực hiện trong hoặc ngồi giờ chính khố.

* Nhóm lơ đễnh: tôi rèn tính cẩn thận bằng cách cho chép lại lần 2 (tùy theo số lỗi tôi cho sao hoặc chép cả bài). Sau đó hai bạn sai sẽ kiểm tra nhau. Nếu ai còn viết sai sẽ cõng bạn viết đúng. Nếu cả hai đều đúng sẽ được lớp tuyên dương.

* Nhóm sai tùy tiện: tôi cho chơi ráp chữ với những mảnh bìa cắt sẵn bắt các em ngồi ráp các chữ viết sai lại cho đúng. Việc làm này vừa vui, vừa giúp các em khắc sâu kiến thức bằng dụng cụ trực quan dễ nhớ, dễ làm và không tốn kém.

* Nhóm chưa nắm vững cách phát âm, chưa nắm nghĩa từ hoặc chưa vững cách phân tích cấu tạo tiếng thì được lưu ý nhiều trong các giờ Tập đọc, Từ ngữ, Ngữ pháp.

+  Giờ Tập đọc : Các em này thường được gọi lên tập phát âm. Tôi hướng dẫn kĩ từng bộ phận môi, răng, lưỡi, ngạc,...

+ Giờ Từ ngữ : Ngồi việc giải nghĩa hoặc mở rộng từ giúp các em hiểu rõ nghĩa để viết đúng, tôi còn minh họa thêm bằng những hình vẽ trực quan cụ thể so sánh vui vui như :

                         * Tai  : (lỗ tai) ngắn, nhỏ – viết “i”

                         * Tay : (cánh tay, bàn tay), dài – viết “y”

                         * Nửa   :(phân nửa), bẻ ngang – viết “dấu hỏi”

                         * Nữa   : Còn tiếp tục diễn ra, kéo dài – viết “dấu ngã”

                         * Trông: nhìn (vẽ hình đôi mắt như dấu ô) – viết “ô”

         .................

+ Giờ Ngữ pháp: Khi dạy phân tích cấu tạo tiếng tôi cũng cho các em chơi ráp tiếng. Các “Âm - Vần - Thanh” tôi sử dụng giấy màu khác nhau cho 3 phần. Các em rất thích khi thực hành, hình thức này cũng giúp các em nhớ dai tiếng mình ráp.

Tôi còn hướng dẫn các em cách nhớ các từ viết sai để loại trừ (theo hướng loại bỏ cái sai, xây dựng cái đúng) qua những đoạn thơ, văn đã học như:

                        Quê hương là trùm khế ngọt

                        Cho con chèo hái mỗi ngày...

+ Hoặc vận dụng cách nhớ máy móc (đặc điểm của học sinh tiểu học) để đưa ra những câu văn, thơ vui vào lùc củng cố bài nhằm giúp các em phân biệt âm như:

             Sáng sớm sang sông

              Sơn xem xổ số

              Số xổ sáu sáu

              Xem xong Sơn xỉu...     

Hay:      Sáo diều vi vu

              Gió chiều dìu dịu

              Danh vào công viên

              Chơi với Vân, Vũ           

              Giọng cười giòn giã

              Vang vang công viên

Ngồi ra việc sửa lỗi, sao lỗi cũng được tôi đặc biệt chú ý kiểm tra thường xuyên sau mỗi bài viết

+ Đối với bản thân:

            Tôi luôn đầu tư nghiên cứu tìm ra nhiều phương pháp dạy để cuốn hút học sinh ham thích giờ học.

             Chịu khó điều tra thường xuyên tình hình mắc lỗi của học sinh để điều chỉnh cách dạy phù hợp.


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Phú Quốc @ 17:58 10/12/2011
Số lượt xem: 652
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến